Thu hút đầu tư phải tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ

02/11/2026 17:31

Đại biểu Quốc hội cho rằng, cần thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư theo hướng tập trung vào việc điều chỉnh về quyền tự do đầu tư kinh doanh; bảo đảm đầu tư; khuyến khích đầu tư và những trường hợp thật sự cần Nhà nước kiểm soát.

Đánh giá theo cam kết, mức độ hoàn thành, trách nhiệm xử lý tương ứng

Ngày 2/11 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội  Trần  Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Thủ tướng  Lê  Minh Hưng tham dự phiên họp (Ảnh: Quang Vinh)

Đại biểu Quốc hội Hoàng Minh Hiếu (Đoàn Nghệ An) cho rằng, hiện nay, theo Luật Đầu tư thì thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư vẫn chủ yếu là vừa xem xét điều kiện của nhà đầu tư, vừa xem xét địa điểm, đất đai, quy hoạch, quy mô, tiến độ, môi trường và nhiều yếu tố khác. Sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư lại tiếp tục thực hiện các thủ tục tương ứng theo pháp luật đất đai, môi trường, xây dựng và pháp luật chuyên ngành. Điều này vừa kéo dài thủ tục vừa khó phân định phạm vi điều chỉnh giữa Luật Đầu tư và các luật khác, từ đó, làm phát sinh nhu cầu sửa Luật Đầu tư mỗi khi luật chuyên ngành thay đổi.

Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam  Bùi  Thị Minh Hoài tham dự phiên họp (Ảnh: Quang Vinh)

Để xử lý tình trạng này, theo ông Hiếu về lâu dài cần thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư theo hướng tập trung vào việc điều chỉnh về quyền tự do đầu tư kinh doanh; bảo đảm đầu tư; khuyến khích đầu tư và những trường hợp thật sự cần Nhà nước kiểm soát trước như các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh, hạ tầng trọng yếu hoặc những lợi ích chiến lược mà một luật chuyên ngành riêng lẻ không thể xử lý đầy đủ. Còn các vấn đề khác thì nên để luật chuyên ngành quy định; bảo đảm nguyên tắc: một rủi ro do một cơ quan chịu trách nhiệm chính.

Ông Hoàng Minh Hiếu phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Về hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm đầu tư đối với cơ chế hỗ trợ chi phí quy định tại dự thảo Luật, ông Hiếu đề nghị nghiên cứu bổ sung nguyên tắc: trường hợp ưu đãi, hỗ trợ đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định cho một dự án cụ thể mà chính sách sau đó thay đổi theo hướng bất lợi, thì quyền lợi đã phát sinh tương ứng với phần nghĩa vụ, chi phí và cam kết mà nhà đầu tư đã thực hiện hợp pháp phải được bảo đảm; đối với thời gian còn lại cần có cơ chế chuyển tiếp phù hợp trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư.

Ông Nguyễn Văn Huy phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) dự thảo nên làm rõ hơn mức độ thực hiện cam kết như thế nào thì được coi là đạt yêu cầu; trường hợp nhà đầu tư chỉ thực hiện một phần cam kết thì xử lý ra sao, việc thu hồi ưu đãi áp dụng đối với toàn bộ hay phần ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ chưa hoàn thành.

Từ đó, ông Huy đề nghị bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng; giao Chính phủ quy định việc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp với mức độ vi phạm. Về đánh giá hiệu quả thực chất của dự án đầu tư. “Thu hút đầu tư không chỉ là thu hút vốn lớn mà phải tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam”, ông Huy nhấn mạnh.

Xử lý nghiêm kê khai gian dối

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn TP. Hải Phòng) đề cập đến kiểm chứng kết quả và xử lý việc không hoàn thành cam kết khi hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17. Dự thảo đã quy định hỗ trợ trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

Theo bà Nga, vấn đề đặt ra là khi quyết định hỗ trợ, các bên phải biết rõ kết quả nào cần đạt, được đánh giá vào thời điểm nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm xác nhận? Do đó cần làm rõ trong nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 17 việc xác định kết quả đầu ra, phương pháp, thời điểm kiểm chứng và chủ thể xác nhận theo từng loại hình hỗ trợ.

Những yêu cầu này phải được xác định trong hồ sơ làm căn cứ quyết định hỗ trợ, giúp doanh nghiệp dự báo được nghĩa vụ và cơ quan thực hiện có căn cứ đánh giá thống nhất. Bên cạnh đó, cần phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với chỉ tiêu cam kết có thể thực hiện theo giai đoạn, hạng mục.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

“Nếu không đáp ứng điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách thì phải thu hồi khoản đã hưởng không đúng. Nhưng đối với chỉ tiêu có thể tách riêng theo giai đoạn, hạng mục, cần xác định khoản hỗ trợ tương ứng bị điều chỉnh, thu hồi; tránh việc không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến thu hồi cả khoản hỗ trợ cho những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng”, bà Nga nói, đồng thời đề nghị bổ sung nguyên tắc phân biệt này ngay tại khoản 4; giao Chính phủ quy định cách xác định cụ thể. Trường hợp kê khai gian dối phải được xử lý nghiêm. Quy định rõ vừa bảo vệ ngân sách, vừa hạn chế cách áp dụng tùy nghi, tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

Đáng chú ý, liên quan đến kiểm soát cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương và công khai kinh phí hỗ trợ, theo bà Nga, hiệu quả thu hút đầu tư cần được đánh giá cả về chất lượng dự án, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, ngân sách và đóng góp vào chuỗi giá trị của vùng. Cơ chế này sẽ khuyến khích địa phương cạnh tranh bằng hạ tầng, nhân lực, dịch vụ công và trách nhiệm đồng hành; hạn chế việc chạy theo số dự án, số vốn thu hút về từng địa bàn.

Ông Phạm Văn Hoà phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cho rằng, việc quy định trong Luật về kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư là hết sức cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp được Nhà nước đầu tư vốn, tài sản hoặc giao đất, hỗ trợ vốn để đầu tư. Ông Hoà đề nghị, Chính phủ quy định rõ các nội dung đánh giá, không chỉ dừng ở chất lượng đầu tư và kết quả kinh doanh mà cần quan tâm đến tác động môi trường. Theo ông Hoà, nhiều ngành nghề có tác động lớn đến môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống người dân. Vì vậy, cần đánh giá tác động đối với môi trường biển, khu vực miền núi và Đồng bằng sông Cửu Long.