Mái nhà chung của hai thế hệ vợ liệt sĩ

21/10/2026 12:18

Chung sống dưới một mái nhà, Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan và con dâu cùng chung hoàn cảnh là vợ liệt sĩ. Nén nỗi đau mất đi hai người đàn ông trụ cột, hai thế hệ phụ nữ đã dìu dắt nhau qua giông bão cuộc đời, chắt chiu nuôi dạy con cháu trưởng thành.

Sự kiên cường của hai người phụ nữ nơi hậu phương

Vào một ngày giữa tháng Mười, chúng tôi ghé thăm gia đình Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan (SN 1932) và bà Nguyễn Thị Nguyệt (SN 1958) trú tại ở xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An. Chiến tranh qua đi để lại cho mẹ chồng và con dâu nỗi đau mất chồng giống hệt nhau. Thay vì đầu hàng nghịch cảnh, hai người góa phụ đã cùng nhau gánh vác việc nhà, chắt chiu làm lụng để nuôi dạy con cháu nên người từ trong thiếu thốn. 

Theo chia sẻ của bà Nguyệt, dù năm nay đã bước sang tuổi 94, mẹ Lan vẫn rất minh mẫn và khỏe mạnh. Thậm chí, mẹ vẫn có thể tự ngồi xe ô tô di chuyển chặng đường dài ra Hà Nội để thăm người con trai út và hiện tại đang ở chơi ngoài đó.

Năm 1957, cô thôn nữ Nguyễn Thị Lan ở xã Thanh Phong (cũ) kết hôn với ông Trần Văn Thành. Đám cưới diễn ra đơn giản giữa bối cảnh thời chiến, chỉ có mâm cơm đạm bạc ra mắt hai bên gia đình. Tiếng gọi Tổ quốc đã tạm ngăn dòng hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ. Năm 1964, mẹ Lan tiễn chồng lên đường nhập ngũ khi đang mang thai người con thứ ba. Chồng ra chiến trường, mọi gánh nặng từ việc chăm sóc ba con nhỏ đến phụng dưỡng cha mẹ chồng già yếu đều đổ dồn lên đôi vai của mẹ Lan.

Ấm áp nghĩa tình dưới mái nhà của hai thế hệ vợ liệt sĩ  - Ảnh 1.

Bức ảnh chân dung Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan và liệt sĩ Trần Văn Nam do Công an xã Đại Đồng kính tặng gia đình.

Đến năm 1968, bốn năm sau ngày nhập ngũ, ông Thành anh dũng hy sinh. Gác lại nỗi đau mất đi người chồng, mẹ Lan một tay quán xuyến gia đình, một mình nuôi ba người con thơ lớn khôn.

Đến năm 1982, khi nỗi đau mất chồng vẫn chưa nguôi ngoai, mẹ Lan lại một lần nữa gạt nước mắt tiễn người con trai thứ hai – anh Trần Văn Nam – ra mặt trận phía Tây Nam Campuchia. Năm 1985, trong chuyến về phép ngắn ngủi, anh Nam bén duyên và lập gia đình với cô thôn nữ Nguyễn Thị Nguyệt. Đám cưới diễn ra chóng vánh, người lính trẻ lại vội vã khoác ba lô trở về đơn vị, gửi gắm người vợ hiền dâu thảo lại cho mẹ già chăm sóc.

Ấm áp nghĩa tình dưới mái nhà của hai thế hệ vợ liệt sĩ  - Ảnh 2.

Bà Nguyễn Thị Nguyệt chia sẻ về những tháng ngày một mình tần tảo gánh vác việc nhà, nuôi con khôn lớn sau khi chồng hy sinh.

Ký ức về những ngày tháng ngắn ngủi ấy vẫn vẹn nguyên trong tâm khảm bà Nguyệt. Bà Nguyệt bồi hồi nhớ lại: "Cưới xong, anh Nam lại vội vã sang Campuchia để tiếp tục làm nhiệm vụ. Phải mãi đến năm 1987, anh mới được về phép ba tháng, và đó cũng là lúc tôi mang giọt máu của anh. Ở nơi chiến trường xa xôi, anh vẫn thường xuyên gửi thư về, lời lẽ đầy thương yêu động viên mẹ và tôi cố gắng chờ ngày anh phục viên. Khi biết tin tôi mang thai, anh chắt chiu gửi từng tấm vải để vợ may quần áo, từng liều thuốc bổ để động viên tinh thần. Anh Nam là người sống tình cảm, lúc nào cũng đau đáu lo lắng cho vợ con".

Lời hẹn trở về của ông Trần Văn Nam đã gác lại mãi mãi khi anh hy sinh tại mặt trận Campuchia vào năm 1988. Đau xót hơn, người lính trẻ ngã xuống vào đúng thời điểm vợ ông đang mang bầu, đứa con trai đầu lòng của hai người còn chưa kịp sinh ra để nhìn mặt cha.

Sự hy sinh của anh Nam khiến mẹ Lan phải trải qua nỗi đau mất đi người thân lần thứ hai, còn bà Nguyệt trở thành góa phụ khi tuổi đời còn rất trẻ. Đứa trẻ sinh ra được bà Nguyệt đặt tên là Trần Văn Thìn. Gác lại nỗi đau, bà Nguyệt vừa làm mẹ, vừa cáng đáng công việc của người cha để lo cho con một cuộc sống đủ đầy nhất có thể. Suốt những năm tháng gian khó ấy, anh Thìn lớn lên bằng sự tần tảo của mẹ và tình yêu thương của bà nội dưới nếp nhà.

Những ngày tháng ấy, mẹ Lan luôn ở bên cạnh động viên, nhắc nhở con dâu cố gắng vượt qua nỗi đau mất chồng để tập trung nuôi dạy con nên người. Sự đồng cảm của một người mẹ cũng từng trải qua hoàn cảnh tương tự đã trở thành điểm tựa, giúp bà Nguyệt có thêm động lực gác lại tủi thân để tiếp tục nỗ lực lo cho gia đình.

Ấm áp nghĩa tình dưới mái nhà của hai thế hệ vợ liệt sĩ  - Ảnh 4.

Anh Trần Văn Thìn chia sẻ về động lực vươn lên từ niềm tự hào đối với sự hy sinh của cha ông.

Sinh ra khi bố đã ngã xuống nơi chiến trường, anh Thìn lớn lên mà không biết đến hơi ấm hay giọng nói của cha. Suốt tuổi thơ, ký ức của anh về cha chỉ gói gọn qua những câu chuyện kể của mẹ, của bà. 

Anh Thìn tâm sự: "Sự thiếu vắng người đàn ông trụ cột khiến căn nhà luôn có những khoảng trống không thể bù đắp. Tôi luôn thấy thiệt thòi hơn các bạn cùng trang lứa khi phải đối mặt với những ngã rẽ cuộc đời mà không có một người cha ở bên để định hướng và sẻ chia".

Chịu nhiều thiệt thòi là vậy, nhưng anh Thìn luôn lấy việc ông nội và cha hy sinh làm điểm tựa để sống tốt hơn. Anh hiểu rằng sự bình yên ngày hôm nay được đổi bằng chính mạng sống của những người đi trước. Ý thức mình là người đàn ông duy nhất còn lại trong nhà, anh không cho phép mình yếu đuối hay dựa dẫm, mà luôn nỗ lực làm việc, sống trách nhiệm để làm chỗ dựa cho bà và mẹ. Đối với anh Thìn, bà nội và mẹ là hai người phụ nữ vĩ đại nhất, là điểm tựa để anh có được ngày hôm nay. Anh chia sẻ, cả cuộc đời bà và mẹ đã chịu quá nhiều thiệt thòi, nén mọi đau thương vào trong để gánh vác việc nhà và chắt chiu nuôi anh khôn lớn. 

Nghĩa tình tri ân thời bình 

Năm 1992, gia đình đã đón được hài cốt liệt sĩ Trần Văn Nam về an táng tại quê nhà. Việc đưa anh về nghĩa trang quê hương đã phần nào giải tỏa được tâm nguyện bấy lâu của Mẹ Lan và người vợ tần tảo. 

“Điều mong mỏi lớn nhất của gia đình lúc này là tìm được phần mộ của bố chồng. Giấy báo tử chỉ ghi ngày mất, không có thông tin về địa điểm, gia đình chỉ biết ông hy sinh ở mặt trận phía Nam. Đã vài lần vào tìm kiếm nhưng do thông tin quá ít ỏi nên đến nay, gia đình vẫn chưa có kết quả. Chúng tôi đặt nhiều kỳ vọng vào đợt lấy mẫu ADN trong khuôn khổ Chiến dịch ‘500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ’. Hy vọng giải pháp này sẽ giúp xác định chính xác phần mộ của bố chồng để gia đình sớm đón ông về quê nhà”, bà Nguyệt chia sẻ.

Năm 2014, mẹ Nguyễn Thị Lan được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Danh hiệu cao quý ấy là sự ghi nhận đối với những hy sinh, mất mát lớn lao mà mẹ đã âm thầm chịu đựng khi lần lượt tiễn chồng và con trai ra đi vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Ấm áp nghĩa tình dưới mái nhà của hai thế hệ vợ liệt sĩ  - Ảnh 5.

Lãnh đạo xã Đại Đồng thăm hỏi, động viên Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan nhân dịp ngày lễ tri ân. Ảnh MTTQ.

Sự hy sinh của gia đình mẹ Lan luôn được chính quyền địa phương trân trọng và biết ơn sâu sắc. 

Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Trịnh Văn Thưởng Trưởng phòng Văn hóa Xã hội xã Đại Đồng chia sẻ, địa phương luôn dành sự quan tâm đối với gia đình mẹ Lan, thường xuyên tổ chức thăm hỏi, động viên, nhất là vào các dịp lễ, Tết và Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Như một lời tri ân thành kính, ngày 27/7 năm nay, địa phương đã cùng gia đình sửa soạn mâm cơm tưởng niệm hai người lính kiên trung ngay tại nhà của mẹ.

Ấm áp nghĩa tình dưới mái nhà của hai thế hệ vợ liệt sĩ  - Ảnh 6.

Bà Nguyệt quây quần bên hai đứa cháu nhỏ. 

Nếp nhà nhỏ của mẹ Lan giờ đây trở thành địa chỉ đỏ, nơi nhiều đoàn viên, thanh niên và học sinh tìm về để hiểu hơn về truyền thống cách mạng, về sự hy sinh của hai thế hệ liệt sĩ cùng những người phụ nữ nơi hậu phương. 

Đứng trước mẹ Lan và bà Nguyệt, thế hệ trẻ nhận ra giá trị thiêng liêng của hòa bình không chỉ được đổi bằng xương máu nơi chiến trường, mà còn bằng cả một đời âm thầm gánh vác, nén đau thương vào trong của những người mẹ, người vợ. Câu chuyện ấy thắp lên trong lòng họ lòng biết ơn sâu sắc và trách nhiệm sống xứng đáng với thế hệ đi trước.

Hiện tại, anh Trần Văn Thìn đang làm nhân viên thiết bị trường học, cách nhà khá xa. Do vợ anh làm việc tận xã Văn Hiến nên mọi việc quán xuyến gia đình lớn đều do một mình anh lo liệu. Điều anh trăn trở nhất là bà và mẹ đều đã tuổi cao sức yếu. Chính vì vậy, anh luôn đau đáu nguyện vọng chuyển công tác về ngôi trường gần nhà để có thể chu toàn việc phụng dưỡng bà và mẹ.

Bạn đang đọc bài viết "Mái nhà chung của hai thế hệ vợ liệt sĩ" tại chuyên mục ĐỜI SỐNG.