
Bước chân dọc bãi biển Cửa Lò, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An những ngày này, chúng tôi lập tức bị cuốn vào bầu không khí hối hả, rộn ràng của mùa săn ruốc. Đập vào mắt là hình ảnh đông đảo ngư dân - mà phần lớn là những người đàn ông - đang tất bật mưu sinh.

Đi dọc bờ biển Cửa Lò, cứ khoảng 5 đến 10m chúng tôi lại bắt gặp một "thợ săn". Dù mỗi người một góc riêng nhưng không khí chẳng hề cô đơn; họ vừa thoăn thoắt đẩy lưới, vừa trò chuyện rôm rả vang cả một vùng biển.

Ruốc biển (hay moi biển, tép biển) là loại giáp xác nhỏ chứa hàm lượng đạm (protein) rất cao cùng nhiều canxi, omega-3 và khoáng chất quý giá. Khi sóng lớn, loài hải sản nhỏ này buộc phải nương theo dòng nước để tìm chỗ trú.

Nghề săn ruốc biển hoàn toàn không cần đến thuyền bè hay máy móc. Ngư dân chỉ lội bộ dọc bờ biển với một cây nhủi — loại dụng cụ tự chế gồm hai cán tre dài kẹp một vòm lưới ở giữa. Kỹ thuật đánh bắt cũng ngược với thông thường: người đi săn phải đi giật lùi, dùng lực hông tì cán tre xuống để rà sát đáy lưới dọc mép nước. Khi di chuyển lùi, đàn ruốc bị động sẽ tự động lọt thẳng vào đáy lưới theo quán tính của dòng nước.

Mùa đánh bắt ruốc thường bắt đầu từ tháng 10 và chỉ kéo dài trong vài tháng. Nghề này không tốn chi phí đầu tư thiết bị nhưng đòi hỏi thể lực, sự kiên nhẫn và kinh nghiệm nhìn nước. Người đi nhủi phải lội bộ liên tục trong làn nước ngập ngang gối, có khi lên đến ngang lưng, thậm chí đến cổ để đón đúng luồng di chuyển của đàn ruốc theo sóng. Khi ruốc lọt vào vòm lưới, họ sẽ đứng lại để gom chúng vào những chiếc túi lưới đeo sẵn bên hông.

"Tôi nối nghề từ đời cha ông. Ngày nhỏ, cứ hễ biển động là tôi lại theo bố ra mép sóng học cách đẩy ruốc. Giờ có tuổi rồi, nhưng cứ thấy mùa ruốc về là chân tay lại bứt rứt, phải vác nhủi ra bãi ngay. Đi vớt một buổi thế này có khi thu nhập bằng cả ngày đi làm thuê. Nói thì ham vậy chứ nghề này cũng cực lắm, vì phải ngâm mình dưới nước biển liên tục nhiều giờ liền", ông Nguyễn Văn Kỳ, một ngư dân kỳ cựu tại bãi biển Cửa Lò chia sẻ.

Việc đẩy nhủi đòi hỏi người làm phải có thể lực tốt và quen với việc lội nước kéo lưới lâu năm. Những người không chịu được việc ngâm mình trong nước lạnh hoặc thiếu kinh nghiệm nhận biết dòng chảy rất khó bám trụ được với công việc này.


Tại bãi biển, thương lái thu mua ruốc tươi với giá 20.000 – 50.000 đồng/kg. Nếu người dân chịu khó đem phơi khô, giá trị thương phẩm sẽ tăng lên đáng kể, dao động từ 120.000 – 150.000 đồng/kg nhờ thời gian bảo quản lâu và dễ vận chuyển đi các tỉnh.

Ruốc tươi sau khi đưa lên bờ có màu đỏ hồng bắt mắt. Sắc đỏ tự nhiên này là dấu hiệu cho thấy ruốc còn tươi nguyên, chưa bị ươn, giúp người dân dễ bán được giá cao cho thương lái ngay tại bãi.

Về ẩm thực, ruốc tươi thường được chế biến thành các món ăn hằng ngày như xào lá chanh, rim mặn, hoặc đem muối mắm và phơi khô tích trữ. Tại các khu chợ và nhà hàng ở Cửa Lò, các sản phẩm từ ruốc luôn là mặt hàng đặc sản được khách du lịch tìm mua nhiều nhất để làm quà.

Ông Hoàng Văn Bình, một người đi nhủi tại Cửa Lò cho biết, mỗi ngày ông ra biển từ 5 giờ sáng và lội nước khoảng 3 đến 4 chuyến. Trước khi hạ lưới, ông phải đi dọc bờ để thăm dò, nhận biết vùng có luồng ruốc tập trung. Trung bình mỗi ngày ông thu hoạch được vài yến ruốc tươi, gặp những ngày trúng đậm, sản lượng có thể lên tới 1 đến 2 tạ.

Thu nhập từ việc đẩy ruốc dao động từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng mỗi ngày. Mức thu nhập này phụ thuộc hoàn toàn vào sản lượng đánh bắt và thời gian lội nước của mỗi ngư dân.

Nghề đẩy nhủi không chỉ giải quyết bài toán thu nhập trước mắt mà đã trở thành thói quen sinh hoạt gắn liền với các thế hệ ngư dân Cửa Lò. Việc duy trì phương thức đánh bắt thủ công này giúp người dân giữ được nghề biển truyền thống của địa phương, đồng thời tạo không gian giao lưu, gắn kết cộng đồng mỗi khi mùa ruốc về. Giữa nhịp sống hiện đại, hình ảnh những bóng người lầm lũi đi giật lùi bên mép sóng vẫn là một phần không thể thiếu trong bức tranh mưu sinh mộc mạc của làng biển ở xứ Nghệ.
Giang Nhật




