Đâu là rào cản trong sức bật kinh tế của ASEAN và Việt Nam?

27/10/2026 17:00

Các chuyên gia quốc tế, lãnh đạo doanh nghiệp đã "mổ xẻ" các rào cản phát triển của ASEAN và Việt Nam tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026.

Ngày 27/10, Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại TP.HCM (HCMC C4IR) phối hợp với Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tổ chức phiên thảo luận “Định vị lại Việt Nam và ASEAN trong chuỗi giá trị toàn cầu”.

Phiên thảo luận nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 , tập trung phân tích những rào cản khiến ASEAN chưa khai thác hết lợi thế thu hút đầu tư và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực sản xuất khu vực.

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 tổ chức tại TP.HCM. (Ảnh: Hùng Triều)

Ông Sacha Dray, chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhận định, ASEAN có thị trường gần 700 triệu dân, quy mô kinh tế khoảng 4.000 tỷ USD và mức độ hội nhập thương mại cao. Tuy nhiên, trong tổng kim ngạch thương mại khoảng 3.000 tỷ USD mỗi năm, thương mại giữa các nước thành viên chỉ chiếm khoảng 22%, thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 60% của Liên minh châu Âu (EU).

Ông Sacha Dray đánh giá, mức độ tham gia chuỗi giá trị khu vực chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ASEAN, trong khi tỷ lệ tương ứng tại EU là khoảng 70%. Điều này cho thấy sản xuất của ASEAN còn phụ thuộc lớn vào thị trường và mạng lưới cung ứng bên ngoài, khiến khu vực dễ chịu tác động từ biến động thương mại quốc tế.

“Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nhà xuất khẩu lớn chưa tạo được sự lan tỏa tương xứng đến mạng lưới nhà cung ứng nội địa. Vì vậy, cùng với thu hút đầu tư, khu vực ASEAN cần tăng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các công đoạn sản xuất để giữ lại nhiều giá trị hơn”, ông Sacha Dray nói.

Theo chuyên gia của Ngân hàng thế giới, ASEAN cần phát triển mạng lưới nhà cung ứng, tháo gỡ rào cản phi thuế quan, hài hòa tiêu chuẩn và đơn giản hóa thủ tục thương mại xuyên biên giới.

Ông Sacha Dray, chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới. (Ảnh: Hùng Triều)

Bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) đề xuất, ở cấp độ khu vực, cần hình thành các cụm công nghiệp xuyên biên giới ASEAN trong những ngành như điện tử, bán dẫn, ô tô và năng lượng sạch.

Thay vì mỗi quốc gia phát triển một chuỗi sản xuất khép kín, các nước có thể phân công sản xuất theo lợi thế về nguyên liệu, linh kiện, lắp ráp và logistics. Cách làm này giúp tăng liên kết nội khối, thu hút đầu tư và giảm rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng.

Ở cấp quốc gia, bà Mai đề xuất, cần xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng và nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực sản xuất.

Các đại biểu chăm chú lắng nghe. (Ảnh: Hùng Triều)

Bà Nguyễn Thụy Lam Tuyền, Tổng Giám đốc ABB tại Việt Nam chia sẻ, sức hấp dẫn của ASEAN đối với nhà đầu tư không chỉ đến từ quy mô thị trường mà còn từ năng lực sản xuất tiên tiến, nguồn nhân lực kỹ thuật và khả năng kết nối khu vực. Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia đang chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí lao động thấp sang đầu tư công nghệ, số hóa và tự động hóa. Mỗi quốc gia có lợi thế riêng, nhưng khả năng bổ trợ và liên kết sản xuất mới tạo nên sức cạnh tranh chung.

Theo bà Tuyền, nhà máy có thể di dời, công nghệ có thể mua, nhưng năng lực sản xuất và quản trị không thể hình thành trong thời gian ngắn.

Bà Tuyền cho rằng, giá trị của dòng vốn FDI không chỉ nằm ở thiết bị hay quy mô đầu tư mà còn ở khả năng chuyển giao kinh nghiệm quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển đội ngũ kỹ thuật. Đây là nền tảng giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của chuỗi cung ứng quốc tế.

Cùng với năng lực quản trị, công nghệ cũng đang mở ra nhiều cơ hội cải thiện vị trí của doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Các chuyên gia mổ xẻ nhiều vấn đề quan trọng của Việt Nam và khu vực ASEAN. (Ảnh: Hùng Triều)

Tiến sĩ Cấn Văn Lực nhận định, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia nhận định, để Việt Nam gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu thì việc thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế cũng vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang gặp nhiều thách thức trong việc huy động nguồn lực này.

Theo ông Lực, thị trường vốn của Việt Nam vẫn chưa phát huy đúng vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn suốt 3 thập niên qua. Hạ tầng tài chính còn hạn chế về chuẩn mực báo cáo quốc tế, xếp hạng tín nhiệm và hạ tầng dữ liệu số chưa tốt.

Cũng theo ông Lực, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam còn thấp. Cụ thể, trung bình 5 năm qua, hệ số ICOR của nước ta luôn hơn 6 lần, dù đang nỗ lực giảm xuống 4,5 lần. Tuy nhiên, con số này vẫn cao hơn so với các nước khác trong giai đoạn tăng trưởng đỉnh cao (ICOR từ 3-4 lần).